Dầu dừa: Sự lựa chọn mới để kiểm soát các tác nhân gây bệnh trên heo

Có nhiều loài vi khuẩn có thể gây ảnh hưởng đến đường ruột của heo con trong giai đoạn cai sữa. Việc ứng dụng các acid béo có chuỗi mạch trung bình vào khẩu phần của heo con có thể giúp cải thiện năng suất và sức khỏe. Vậy có thể chiết xuất các acid béo này từ đâu? Chính là từ dầu dừa...

Thời kỳ cai sữa là giai đoạn quan trọng nhất đối với heo con, các yếu tố stress từ việc tách heo con khỏi mẹ, kết hợp đàn giữa các lứa khác nhau, môi trường sống mới và những thay đổi trong khẩu phần ăn, từ dạng sữa lỏng sang thức ăn cứng, thường liên quan đến lượng ăn vào thấp và không ổn định, dẫn đến kết quả làm gián đoạn sự tăng trưởng trong thời gian ngắn. Những thay đổi đáng kể ở biểu mô ruột non và về sinh hóa, như teo vi nhung mao, tăng sản tế bào biểu mô; là nguyên nhân làm giảm khả năng tiêu hoá và hấp thu, góp phần dẫn đến tình trạng tiêu chảy sau cai sữa, suy yếu phản ứng miễn dịch, thay đổi thành phần hệ vi sinh đường ruột, cuối cùng làm giảm tăng trọng và khiến cho vật nuôi dễ bị nhiễm bệnh hơn.
 

Acid lauric là acid béo chính trong dầu dừa, có nguồn gốc từ cây dừa. Hình ảnh: Shutterstock

Kể từ khi có lệnh cấm sử dụng thuốc kháng sinh như chất kích thích tăng trưởng vào năm 2006, do những lo ngại về sự an toàn của thức ăn chăn nuôi và sự phát triển của các tác nhân gây bệnh kháng thuốc, các chuyên gia dinh dưỡng vật nuôi đặc biệt quan tâm đến các giải pháp dinh dưỡng thay thế chủ động và không dùng thuốc để tối ưu hóa giai đoạn chuyển tiếp cai sữa, hạn chế các bệnh đường ruột. Có nhiều giải pháp thay thế đã được đề xuất như: sử dụng các enzyme, probiotic, prebiotic, yếu tố phytogenic, và các acid hữu cơ, một trong số đó, được dùng riêng lẻ hoặc kết hợp chung, góp phần rõ rệt vào sức khỏe vật nuôi chủ yếu thông qua quá trình acid hóa môi trường trong ống tiêu hóa (GIT) và / hoặc kiểm soát vi khuẩn có khả năng gây bệnh.

Cụ thể, việc ứng dụng các acid béo chuỗi mạch trung bình (MCFAs) hiện hữu cung cấp phương pháp tiếp cận đầy hứa hẹn giúp giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực liên quan đến giai đoạn sau cai sữa ở heo con. MCFAs có thể được ứng dụng như phương pháp thay thế không kháng sinh để cải thiện năng suất và sức khỏe.

Các acid béo chuỗi mạch trung bình (MCFAs)
MCFAs là một họ các acid béo bão hòa bao gồm acid caproic (C6:0), acid caprylic (C8:0), acid capric (C10:0) và acid lauric (C12:0).

MCFAs tồn tại tự nhiên như là thành phần của các triglycerid có trong nhiều loại chất béo thực vật / dầu, đặc biệt là dừa và cọ. Thông thường, hàm lượng MCFA trong dầu dừa cao; tỷ lệ gồm có 3,4-15% acid caprylic, 3,2-15% acid capric và 41-56% acid lauric. Hàm lượng cao acid caprylic (2,4-6,2%), acid capric (2,6-7,0%) và acid lauric (41-55%) cũng có thể tìm thấy trong dầu cọ.

Hình 1 - Bán định lượng vi khuẩn Salmonella typhimurium đếm được trong chất chứa manh tràng (CFU / g) vào ngày thứ 8 sau khi gây nhiễm qua đường ăn uống. Quy mô nhóm thí nghiệm: 8 vật nuôi cho mỗi thí nghiệm.
 
MCFAs chủ yếu được xem như chất hoạt động bề mặt anion, nhờ đặc tính đó mà nó có tác dụng kháng khuẩn. Việc làm mất tính ổn định màng tế bào do sự kết dính của MCFAs vào vách tế bào vi khuẩn và màng tế bào chất, cũng như ức chế lipase vi khuẩn, một enzyme cần thiết cho sự định vị của vi sinh vật trên da và niêm mạc ruột, có thể là cơ chế chủ yếu. Bên cạnh những tác động phân giải trực tiếp của MCFAs, việc kích hoạt các enzyme tự phân giải vi khuẩn cũng góp vai trò vào hoạt động chống lại các tác nhân gây bệnh.

Ngoài ra, sự hấp thu các acid béo không phân ly vào tế bào vi khuẩn dường như có tác dụng gây độc tế bào. Các MCFAs được phân tách thành các proton và anion trong tế bào chất cơ bản của tế bào, làm giảm độ pH. Kết quả là các enzyme trong tế bào chất bị bất hoạt, làm chết tế bào vi khuẩn. Đặc tính kháng khuẩn của MCFAs đã được mô tả như tác dụng bảo vệ trên vi cấu trúc ruột, dựa trên các nghiên cứu trên heo. MCFAs cũng đã được cho rằng có tác động điều hòa miễn dịch nhưng còn thiếu bằng chứng thử nghiệm trên heo.
Acid Lauric
Acid lauric là acid béo chính có trong dầu dừa, chiếm tỷ lệ khoảng  45-53% thành phần acid béo tổng thể. Các đặc tính của dầu dừa thực sự có thể được quy ra từ tính chất của acid lauric.
Acid lauric có hoạt tính kháng khuẩn mạnh nhất trong tất cả các acid béo bão hòa giúp chống lại các vi khuẩn Gram dương, một số virus và nấm. Các vi khuẩn Gram dương dưới đây được thử nghiệm trong một nghiên cứu in vitro nơi acid lauric cho thấy tác dụng ức chế mạnh nhất trong các acid béo bão hòa: Staphylococcus aureus, S. epidermidis, Streptococcus beta tan huyết (nhóm A và không thuộc nhóm A), nhóm Dstreptococcus, Bacillus subitilis, Sarcina lutea, Micrococcus sp., Nocardia asteroids, Corynebacterium sp., Pneumococcus và Candida albicans. Đối với Clostridium perfringens, acid lauric cho hoạt thể hiện tính kháng khuẩn cao nhất, kế đến là acid myristic, acid capric, acid oleic và acid caprylic.

Hiệu quả kiểm soát vi khuẩn gây bệnh
Một nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá tác động của muối natri từ các acid béo dầu dừa chưng cất trong trường hợp thử thách gây nhiễm Salmonella typhimurium trên heo con cai sữa qua đường ăn uống.

Tổng cộng có 48 heo con 28 ngày tuổi được chia ngẫu nhiên thành hai nhóm thí nghiệm với tám lần lặp lại mỗi thí nghiệm (ba heo con cho mỗi lần lặp lại):
Khẩu phần 1: Heo con được cho ăn ad libitum với khẩu phần cơ bản không bổ sung; 
Khẩu phần 2: Heo con được cho ăn ad libitum với khẩu phần cơ bản có bổ sung 3 kg muối natri của acid béo dầu dừa chưng cất / tấn thức ăn.

Sau khoảng một tuần cho thích nghi, vật nuôi được chủ động gây nhiễm cho ăn vi khuẩn Salmonella typhimurium (1,2 x 108 CFU / con). Sau khi gây nhiễm, lượng thức ăn ăn vào và trọng lượng cơ thể được theo dõi xuyên suốt các thí nghiệm. Độ đồng nhất của phân và nhiệt độ trực tràng (trước và 2 ngày sau khi gây nhiễm) được đánh giá. 1 heo con trong mỗi lần lặp lại thí nghiệm được gây tử vào ngày 4 và 8 sau khi gây nhiễm, và lấy mẫu chất chứa manh tràng để tiến hành đếm khuẩn Salmonella.
Trong thời gian thử nghiệm, không quan sát thấy có sự khác biệt đáng kể ở các thông số sản xuất, độ đồng nhất của phân hoặc nhiệt độ trực tràng. Số vật nuôi có chất chứa manh tràng âm tính với Salmonella có xu hướng cao hơn ở các nhóm vật nuôi ăn khẩu phần 2 vào ngày thứ 4 sau khi gây nhiễm và có xu hướng cao hơn có ý nghĩa thống kê ở ngày thứ 8 sau khi gây nhiễm. Các phân tích bán định lượng vi khuẩn Salmonella trong các mẫu dương tính cũng cho thấy rằng số lượng vi khuẩn có xu hướng giảm ở nhóm được cho ăn khẩu phần 2 (Hình 1).

Cải thiện năng suất và sức khỏe đường ruột

Một nghiên cứu khác được thực hiện nhằm đánh giá tác động của muối natri của các acid béo dầu dừa chưng cất lên năng suất và hệ vi sinh đường ruột ở heo con.
Tổng cộng có 48 heo con cai sữa lúc 21 ngày tuổi (7.1 ± 0.15 kg) được phân chia ngẫu nhiên thành 2 nhóm với 6 lần lặp lại cho mỗi nhóm (4 heo con cho mỗi lần lặp lại):
Khẩu phần 1: Khẩu phần cơ bản không bổ sung thêm; 
Khẩu phần 2: Khẩu phần cơ bản bổ sung thêm 3 kg muối natri của acid béo dầu dừa chưng cất / tấn thức ăn trong suốt 2 tuần (21-35 ngày tuổi).

Hình 2 - Ảnh hưởng của khẩu phần 2 trên hệ vi sinh vật đường ruột ở hồi tràng và manh tràng của heo con 35 ngày tuổi.
 
Thức ăn bột và nước uống được cung cấp tự do. Khi kết thúc thí nghiệm, trọng lượng cơ thể (BW), tăng trọng trung bình hàng ngày (ADG), lượng thức ăn trung bình hàng ngày (ADFI) và tỷ lệ chuyển hóa thức ăn (FCR) được ghi nhận, và 1 heo con trong mỗi lần lặp lại thí nghiệm được gây tử, lấy mẫu ở hồi tràng và manh tràng để phân tích hệ vi sinh đường ruột.

Khi so sánh với khẩu phần 1, heo con ăn khẩu phần 2 có xu hướng nặng hơn 11% và cho thấy sự cải thiện FCR (1.35 so với 2.32). Hơn nữa, nhóm ăn khẩu phần 2 có  ADG (63 g / ngày) và ADFI (24 g / ngày) cao hơn so với khẩu phần 1, xem Bảng 1. Cho vật nuôi ăn khẩu phần 2 làm giảm đáng kể số lượng coliforms, E. coli và Enterobacteria ở hồi tràng và manh tràng (Hình 2).

Kết luận
Có thể kết luận rằng việc sử dụng muối natri của các acid béo dầu dừa chưng cất với liều 3 kg / tấn thức ăn có thể làm giảm sự xâm nhiễm Salmonella trong ruột của heo con khi vật nuôi được chủ động gây nhiễm cho ăn một chủng vi khuẩn gây bệnh; và có thể cải thiện các thông số sản xuất, có tác động tích cực đối với sức khỏe đường ruột, và điều biến hệ vi sinh đường ruột ở heo con.

Nguồn: Pigprogress
Biên dịch: Acare VN Team

kỹ thuật khác


Please upgrade IE 8+, Download here