Sử dụng khô dầu hạt cải trong thức ăn cho heo

Tác giả: G Mejicanos, N Sanjayan, IH Kim và CM Nyachoti

Khô dầu hạt cải có thể được sử dụng làm nguồn protein thay thế hiệu quả cho các nguồn protein khác như khô dầu đậu nành trong khẩu phần của heo. Chúng tôi xin giới thiệu kết quả những nghiên cứu mới nhất.

Tùy thuộc vào giá trị dinh dưỡng và chi phí tương đối của nó, sẽ tiết kiệm hơn nếu thay thế một phần hoặc hoàn toàn khô dầu đậu nành bằng khô dầu hạt cải (CM). Tài liệu này có đủ bằng chứng cho thấy CM đã được sử dụng suốt hơn 40 năm qua trong khẩu phần của heo.

Khẩu phần heo khởi động

Có vẻ như phần lớn các nghiên cứu về việc sử dụng CM trong khẩu phần của heo khởi động chủ yếu tập trung vào hiệu quả tăng trưởng. Trước đây, người ta đã đưa ra giả thuyết rằng thay thế hoàn toàn hoặc một phần khô dầu đậu nành bằng CM có ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả của heo. Người ta cũng chứng minh rằng khi gia tăng hàm lượng CM thì tăng trọng trung bình hàng ngày (ADG) và lượng ăn vào trung bình hàng ngày (ADFI) sẽ giảm tuyến tính ở heo cai sữa. Trong một thí nghiệm về tính ngon miệng, heo cai sữa sẽ được lựa chọn giữa khẩu phần đối chứng chứa khô dầu đậu nành (SBM) và khẩu phần bổ sung CM ở mức 5-20%. Kết quả cho thấy rằng heo thích ăn khẩu phần chứa SBM hơn bất kỳ khẩu phần có chứa CM nào. Lượng ăn vào giảm đáng kể khi mức bổ sung CM tăng từ 5 đến 20%. Có thể nguyên nhân làm giảm lượng ăn vào đối với khẩu phần có chứa CM cho heo khởi động là do ảnh hưởng của các sản phẩm phân huỷ glucosinolate (GSL) đối với chức năng tuyến giáp và giảm tính ngon miệng do có sự hiện diện của GSL và các sản phẩm phân hủy của chúng. Tuy nhiên, những phát hiện gần đây lại trái ngược với kết quả nghiên cứu trước đó. Ví dụ, một nghiên cứu gần đây cho thấy khô dầu hạt cải chiết dung môi (SECM) hoặc khô dầu hạt cải ép đùn (EPCM) ở mức 150g/kg kết hợp với glycerol thô có thể thay thế một phần SBM và lúa mì trong khẩu phần heo cai sữa.

Khô dầu hạt cải là nguồn protein thay thế trong khẩu phần heo lứa vì nó có lợi về mặt chi phí. Ảnh: www.animalsciencepublications.org

Hiệu quả tăng trưởng

Trong một nghiên cứu của Landero, người ta dùng 0, 50, 100, 150 và 200g SECM/kg để thay thế SBM trong khẩu phần cho heo cai sữa ăn. Kết quả cho thấy từ 0 đến 28 ngày tiến hành thí nghiệm, việc tăng SECM lên 20% không ảnh hưởng đến tăng trọng, lượng ăn vào và hiệu quả sử dụng thức ăn, mặc dù sự gia tăng CM làm giảm tuyến tính năng lượng tiêu hóa tổng thể biểu kiến (ATTD), chất khô (DM), protein thô (CP) và giảm theo mũ bậc hai đối với mật độ năng lượng khẩu phần (DE). Landero và cộng sự đã tiến hành một thí nghiệm khác để xác định ảnh hưởng của việc cho ăn các khẩu phần gia tăng hàm lượng EPCM lên đến 200g/kg thức ăn cho heo cai sữa. Họ không thấy sự khác biệt đáng kể về hiệu quả tăng trưởng mặc dù có sự giảm tuyến tính ATTD của DM, năng lượng và CP.

Bảng 1 - Ảnh hưởng của hàm lượng bổ sung khô dầu hạt cải và các giống cải khác nhau đối với hiệu quả của heo con*.

*Heo con được ăn thức ăn chứa khô dầu hạt cải gồm hai giai đoạn trong 28 ngày.


Trong một nghiên cứu gần đây, Sanjayan và cộng sự đã chứng minh rằng SECM từ hạt cải dầu đen và cải cay vàng có thể được bổ sung vào khẩu phần heo cai sữa lên đến 25% mà không gây ảnh hưởng bất lợi nào đến hiệu quả tăng trưởng (Bảng 1). Trong một nghiên cứu khác, Mejicanos đã đánh giá bổ sung CM hàm lượng cao từ cải dầu và cải cay ở dạng nguyên hạt và khử vỏ thay thế SBM ở mức 15% và thấy hiệu quả tăng lên khi sử dụng 2 giống có CM khử vỏ. Có 2 lời giải thích được đưa ra về sự cải thiện hiệu quả của heo cai sữa khi bổ sung CM hàm lượng cao. Thứ nhất, khẩu phần trước đây được xây dựng chủ yếu dựa trên CP và DE chứ không phải khả năng tiêu hóa axit amin tiêu chuẩn trong hồi tràng (SID AA) hoặc NE. Zijlstra và Payne đề nghị nên xây dựng khẩu phần với phụ phẩm làm nguồn thay thế sẽ giảm thiểu các nguy cơ liên quan đến việc giảm hiệu quả tăng trưởng nếu sử dụng các hệ thống NE và SID AA. Lý do thứ hai là các giống cải hiện nay có hàm lượng GSL tương đối thấp hơn so với các giống cũ.

Khẩu phần heo lứa và heo vỗ béo

Các nghiên cứu trước đây báo cáo rằng CM có thể được sử dụng để thay thế chỉ 50% protein bổ sung từ SBM ở heo lứa. Tuy nhiên, việc thay thế 75% hoặc thay thế toàn bộ SBM bằng CM đã làm giảm đáng kể hiệu quả tăng trưởng. Sauer và cộng sự chỉ ra rằng mật độ DE và hàm lượng lysine trong CM thấp hơn so với SBM và ảnh hưởng của GSL đối với lượng ăn vào và quá trình trao đổi chất có thể là những lý do làm giảm hiệu quả heo lứa. Thacker cho rằng có thể đạt được hiệu quả tốt đối với heo lứa nếu chỉ bổ sung CM thay thế một nửa lượng protein trong khẩu phần. Trong một bài đánh giá về CM, Schöne và cộng sự cho thấy heo lứa có thể ăn được tối đa 2μmol GSL/g trong khẩu phần. Tuy nhiên, tổng hàm lượng GSL của CM từ Canada là khoảng 7,2μmol/g, nghĩa là mức tối đa là 33% CM trong khẩu phần heo lứa. Các nghiên cứu xác định khả năng tiêu hóa chất dinh dưỡng của CM đã được tiến hành. Ví dụ, Bell và cộng sự (1998) báo cáo rằng hạt cải dầu đen và cải cay vàng có lượng protein dễ tiêu và năng lượng tương tự nhau ở heo vỗ béo. Một thí nghiệm sử dụng hạt cải dầu vàng và đen, hạt cải cay vàng không qua xử lý hoặc được xử lý bằng cách rang ảnh hưởng như thế nào đối với heo lứa cho thấy mật độ DE và NE trong hạt cải dầu vàng cao hơn so với giống cải dầu đen và cải cay thông thường.

Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia Canada cho biết giá trị NE của SECM từ hạt cải dầu đen và NE cho cải cay vàng trung bình là 2.102 kcal/kg, trong khi giá trị cho hạt cải cay vàng trung bình 2.340 kcal/kg. SID AA của SECM và EPCM đối với heo con đã được báo cáo trong một số nghiên cứu. Trong các nghiên cứu đã đề cập ở trên, EPCM có AA tiêu hóa lớn hơn so với SECM.

Khô dầu hạt cải có thể được sử dụng để thay thế  đến 50% nguồn protein bổ sung từ khô dầu đậu nành cho heo lứa. Ảnh: Jan Sibon

Đặc điểm thân thịt

Các nghiên cứu trước đây cũng chỉ ra rằng CM có thể được bổ sung trong khẩu phần của heo mà không ảnh hưởng đến hiệu quả tăng trưởng và đặc điểm thân thịt của heo vỗ béo. Một nghiên cứu về hiệu quả được thực hiện ở heo lứa bằng cách giảm dần lượng CM ép đùn (22.5%, 15%, 7.5% và 0%) để xác nhận hiệu quả và các đặc tính thân thịt. Tăng mức bổ sung CM ép đùn không ảnh hưởng đến đặc tính thân thịt như độ dày mỡ lưng, bề dày thịt thăn, mỡ má và thành phần axit béo; tuy nhiên, ADG giảm 3g/ngày trên mỗi 1% EPCM bổ sung vào. Zanotto và cộng sự cho heo lứa vỗ béo ăn 20%, 40%, 60% và 80% CM thay thế khô dầu đậu nành và phát hiện ra ảnh hưởng mũ bậc hai đối với sự tăng cân. Các tác giả này nhận thấy rằng mức thay thế 40% khô dầu đậu nành cho sản lượng cao và thân thịt nặng hơn, mặc dù bề dày mỡ lưng tăng. Busboom và cộng sự thấy rằng việc cho ăn khô dầu hạt cải không chỉ làm tăng tỷ lệ axit béo không no trong mô mỡ và mô cơ, mà nó cũng không ảnh hưởng đến đặc điểm thân thịt.

Ứng dụng trong khẩu phần heo nái

Spratt và Leeson đã đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung khô dầu hạt cải thô, nghiền, nguyên béo đến thành phần sữa heo nái và sự tăng trưởng heo lứa bằng cách sử dụng cải dầu (giống Tower) ở mức từ 5 đến 25%, bắt đầu từ khi mang thai 109 ngày và kéo dài đến 21 ngày sau khi sinh. Họ nhận thấy rằng hiệu quả của heo nái không bị ảnh hưởng khi sử dụng hạt cải dầu 5% và 10%, nhưng ở mức 15% làm giảm tăng trọng hàng ngày, dẫn đến việc giảm thể trọng ở heo nái từ 7-21 ngày sau khi sinh; sữa không bị ảnh hưởng. Gần đây hơn, King và cộng sự đánh giá hiệu quả của khẩu phần có chứa đến 20% SECM đối với hiệu quả của heo nái. Kết quả cho thấy hiệu quả trung bình heo nái và khối lượng heo con không bị ảnh hưởng bởi các mức CM khác nhau trong khẩu phần ăn.

Trong một nghiên cứu khác, Clowes và cộng sự đánh giá giai đoạn cho ăn protein ở heo nái mang thai trên 3 lứa đẻ. Nghiên cứu sử dụng CM với tỷ lệ lên tới 8,1% và không thấy có ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của mẹ, trọng lượng heo sơ sinh, sự tăng trưởng của lứa đẻ trong thời kỳ cho bú, khoảng thời gian từ khi cai sữa đến khi phối giống hoặc kích cỡ lứa đẻ tiếp theo.

Quiniou và công sự nghiên cứu ảnh hưởng của việc cho ăn 10% khô dầu hạt cải chứa glucosinolat thấp (B. napus) trong thời gian mang thai và cho con bú đối với hiệu quả của những con heo nái đẻ nhiều và lứa đẻ của chúng trong ba chu kỳ sinh sản và không thấy có sự khác biệt khi so sánh với khẩu phần không có khô dầu hạt cải. Trong nghiên cứu của họ, heo nái cho bú số con 43,6 khi ăn khẩu phần có khô dầu hạt cải và 43,8 con khi ăn khẩu phần không có khô dầu hạt cải trong 3 chu kỳ sinh sản.

Khối lượng heo con khi sinh hoặc sự sống sót của heo sau cai sữa và sự tăng trọng của lứa đẻ không bị ảnh hưởng khi bổ sung CM. Nồng độ thyroxin huyết tương của heo nái và heo con cho thấy chức năng tuyến giáp không bị thay đổi khi bổ sung hạt cải dầu dưới 2μol GSL/g. Việc sử dụng khẩu phần có chứa 10% CM trong thời gian mang thai và cho con bú ở heo nái đẻ nhiều con trên ba lứa đẻ không ảnh hưởng đến tuổi thọ của nái, hiêu quả sinh sản và lứa đẻ.

Kết luận

Khô dầu hạt cải (CM) là một lựa chọn thay thế trong khẩu phần heo vì nó là một nguồn protein hiệu quả về mặt chi phí. Tổng quan tài liệu này cung cấp thông tin về giá trị dinh dưỡng của CM và các kỹ thuật gần đây (như phát triển giống cây cải dầu mới, khử vỏ CM, bổ sung enzyme thức ăn và lên men) được sử dụng để cải thiện giá trị dinh dưỡng của CM và vượt qua những hạn chế gặp phải trong ngành chăn nuôi heo và việc sử dụng nó làm thức ăn gia súc. Việc xác định SID AA của các giống cải mới là rất quan trọng để xây dựng khẩu phần hiệu quả, qua đó giúp đạt được hiệu quả tăng trưởng đã dự đoán ở heo. Hơn nữa, việc bổ sung enzyme vào khẩu phần ngũ cốc cho kết quả không nhất quán.

Tài liệu tham khảo có sẵn từ các tác giả. Bài viết này đã được công bố trong Oilseeds Focus và Matrix AFMA.


Nguồn: allaboutfeed
Biên dịch: Acare VN Team

kỹ thuật khác


Please upgrade IE 8+, Download here