HIỂU VỀ NHÓM NGUYÊN LIỆU CUNG ĐẠM NGUỒN THỰC VẬT

(Acare VN) Hiểu biết rõ hơn về các nguyên liệu giúp người làm công thức sử dụng hợp lý, tiết kiệm chi phí mà vẫn đảm bảo cung cấp đủ dưỡng chất cho động vật.

Khô dầu đậu nành
Đậu nành chứa 160-210g/kg dầu và thường được chiết xuất bằng dung môi; phần bã còn lại chứa khoảng 10g/kg dầu. Đậu nành Hi-pro tách vỏ chứa hàm lượng protein và năng lượng cao, hàm lượng xơ thấp hơn các nguồn nguyên liệu khác. Khô đậu nành thường được coi là một trong những nguồn protein tốt nhất cho động vật, và năm 2008 nó là nguồn protein chính được sử dụng trong chăn nuôi ở Anh. Protein trong khô dầu đậu nành chứa tất cả các acid amin thiết yếu, hàm lượng cystine và methionine là tối ưu. Methionine là acid amin giới hạn đầu tiên và quan trọng trong khẩu phần ăn giàu năng lượng.

Khô dầu đậu nành luôn chứa một số thành phần độc hại, gây kích ứng và ức chế như một số yếu tố gây dị ứng, bướu cổ và chống đông máu. Đặc biệt nó còn chứa chất ức chế protease – một trong 6 chất đã được xác định. Hai trong số này, là yếu tố kháng trypsin Kunitz và chất ức chế chymotrypsin Bowman- Birk. Các chất ức chế protease sẽ làm giảm tăng trưởng khi sử dụng đậu nành hoặc khô dầu đậu nành chưa qua xử lý nhiệt. Giảm tăng trưởng có thể là do việc ức chế tiêu hóa protein, nhưng cũng có thể là do hoạt động quá mức của tuyến tụy dẫn tới việc tăng sản xuất trypsin và chymotrypsin. Hậu quả của việc thiếu mất cystine và methionine đã làm việc thiếu hụt các acid amin khác trong khô dầu đậu nành trở nên nghiêm trọng hơn. Yếu tố Kunitz, chứ không phải là yếu tố Bowman-Birk, bị bất hoạt (30 - 40%) bởi dịch dạ dày của con người ở pH 1,5-2.0. Tuy nhiên, hầu hết thời gian, độ pH của dạ dày là trên 2.0. Yếu tố Bowman-Birk bị bất hoạt khi đi qua ruột của gà con.

Một chất khác góp phần làm giảm tăng trưởng là haemagglutenin – một chất có khả năng ngưng kết các tế bào hồng cầu ở thỏ, chuột và người, nhưng không ảnh hưởng trên cừu và bê. Các gây ảnh hưởng này được tổng hợp trong một nhóm được gọi là lectin. Đây là những protein có khả năng nhận biết và liên kết thuận nghịch với các gốc glycoprotein trên bề mặt màng tế bào và chúng được chứng minh là nguyên nhân gây ra sự giảm tăng trưởng và tử vong ở động vật thí nghiệm. Chúng gây độc do liên kết với các tế bào biểu mô ruột non, phá vỡ đường viền bàn chải và làm giảm hiệu quả của việc hấp thụ chất dinh dưỡng.

Lectin cũng được chứng minh là chất gây ức chế hydrolase ở viền bàn chải ruột. Có ý kiến cho rằng, các vi khuẩn làm suy yếu hệ miễn dịch cơ thể tạo điều kiện cho sự nhiễm khuẩn, từ đó gia tăng sự xâm nhập vào cơ thể qua hệ vi sinh vật đường ruột. Những ý kiến khác cho rằng, các vi khuẩn đã tạo điều kiện cho sự xâm lấn ruột non bằng vi khuẩn coliform. Nội dung thảo luận đa số đều liên quan tới việc làm giảm tăng trưởng của khô dầu đậu nành ở động vật dạ dày đơn. Độc tính của chúng khác nhau ở các nguyên liệu khác nhau, gây ảnh hưởng nhất là hạt thầu dầu nhưng lại tương đối ít trong đậu nành. Các chất ức chế bị bất hoạt nhờ nhiệt độ ở các khẩu phần ăn hoàn chỉnh cho động vật dạ dày đơn. Động vật nhai lại không bị ảnh hưởng bởi các chất ức chế này và việc xử lý nhiệt là không cần thiết. Quá trình xử lý nhiệt cũng phải được kiểm soát cẩn thận vì sẽ làm giảm hàm lượng lysine và arginine từ đó làm giảm giá trị protein.

Nếu SBM được sản xuất đúng cách (có tối đa một urease được chỉ định là 0,4 mg N/g mỗi phút), nó sẽ là một loại nguyên liệu có giá trị cao cho động vật. Tuy nhiên, nếu khô dầu đậu nành được sử dụng làm nguyên liệu cung protein chính cho động vật có dạ dày đơn, vẫn có một số vấn đề phát sinh. SBM nghèo vitamin B, do đó phải được cung cấp thêm dưới dạng bổ sung hoặc dưới dạng protein động vật như bột cá. Nếu việc bổ sung này không được thực hiện, heo nái có thể sinh ra những lứa heo yếu, phát triển chậm do năng suất sữa giảm; heo già cho thấy sự thiếu phối hợp vận động và không đi lại được. Trong khẩu phần như vậy, với gà mái sinh sản, tỉ lệ trứng nở thấp, từ đó gà con sẽ có chất lượng kém; Những con gà con như vậy sẽ mẫn cảm với bệnh xuất huyết do thiếu vitamin K. Khô dầu đậu nành là một nguồn chứa canxi và phốt pho tốt hơn so với các loại ngũ cốc khác, nhưng khi sử dụng để thay thế protein trong khẩu phần ăn của gà đẻ thì cần phải cân đối lại dinh dưỡng phù hợp trong giai đoạn phát triển. Có thể bổ sung tới 400 kg/tấn đối với khẩu phần gia cầm và 250 kg/tấn trong khẩu phần heo.

Khô dầu đậu nành chứa khoảng 1g/kg genistein, có tác dụng tương tự như oestrogenic và hiệu lực gấp 4,44 x 10-6 lần so với diethylstilboestrol. Ảnh hưởng của thành phần này đến tốc độ tăng trưởng chưa được rõ ràng.

Dầu trong đậu nành có tác dụng nhuận tràng và có thể làm cho mỡ động vật mềm hơn. SBM chiết xuất bằng dung môi không chứa đủ lượng dầu để có thể gây ra vấn đề này, nhưng cần lưu trong bối cảnh hiện nay có xu hướng sử dụng các sản phẩm đậu nành nguyên dầu trong các công thức khẩu phần, đặc biệt là cho heo. Các sản phẩm nguyên dầu được sản xuất bằng cách xử lý bằng áp suất hoặc ép đùn. Sản phẩm ép đùn có hàm lượng năng lượng có thể chuyển hóa cao hơn, nhưng lợi thế này không có khi đậu nành chỉ được nghiền và ép viên.

Protein đậu nành đậm đặc được sản xuất bằng cách chiết xuất bằng dung môi và loại bỏ carbohydrate không hòa tan. Hàm lượng protein cao tới 70%. Trong quá trình chế biến, các chất kháng nguyên và kháng dưỡng được loại bỏ và là nguyên liệu phù hợp để đưa vào thay thế sữa bê và sử dụng trong khẩu phần cho heo con.

Khô dầu hạt bông
Protein của bã hạt bông vải có chất lượng tốt nhưng lại có hàm lượng cystine, methionine và lysine thấp, mà lysine là acid amin giới hạn đầu tiên. Hàm lượng canxi thấp và, vì tỷ lệ canxi với phốt pho là khoảng 1: 6, nên sự thiếu hụt canxi có thể dễ dàng xảy ra. Đây cũng là một nguồn thiamin tốt mặc dù là nguồn carotene hàm lượng thấp.

Khi bã hạt bông vải được sử dụng làm nguồn protein cho heo non, heo nái mang thai, cho con bú, hoặc gia cầm non hoặc gia cầm đẻ, cần phải được bổ sung bột cá để không thiếu hụt hàm lượng canxi và các acid amin thiết yếu. Việc bổ sung vitamin A và D cũng là điều cần thiết. Heo và gia cầm không dễ chấp nhận khô hạt bông vì nó khô và bụi. Bò đang tiết sữa không gặp khó khăn như vậy, mặc dù một số vấn đề có thể xảy ra khi cho ăn một lượng lớn khô hạt bông, bởi nó làm mỡ sữa có xu hướng trở nên cứng và chắc. Bơ làm từ chất béo như vậy thường khó khuấy và có mùi hôi. Một yếu tố khác được xem xét khi sử dụng bột hạt bông là chi phí cho nó. Đây thường không phải là vấn đề và thực sự nó có thể có lợi trong trong các khẩu phần có chứa một lượng lớn các thành phần nhuận tràng.

Hạt bông vải có thể chứa từ 0,3g/kg đến 20g/kg vật chất khô(DM) sắc tố màu vàng được gọi là gossypol, và hàm lượng sắt  4-17g/kg DM từ hạt. Gossypol là một aldehyd polyphenolic (alkanal), là một chất ức chế chống oxy hóa và có tác động xấu tới động vật dạ dày đơn. Các triệu chứng chung của nhiễm độc gossypol là chán ăn, sụt cân, thở nặng nhọc và rối loạn nhịp tim. Nguyên nhân chết thường liên quan đến giảm khả năng vận chuyển oxy của máu, ảnh hưởng tan máu lên hồng cầu và suy giảm tuần hoàn. Mổ khám bệnh tích thường thấy phù nề ở các cơ quan trong các khoang cơ thể, cho thấy ảnh hưởng đến khả năng thấm thấu của màng. Mặc dù ngộ độc cấp tính là không phổ biến, nhưng khi ăn một lượng nhỏ trong một thời gian dài có thể gây tử vong. Trước đây, việc phân biệt gossypol giữa dạng tự do (hòa tan trong 70 -30v/v trong acetone) và dạng liên kết là rất quan trọng, vì chỉ có một dạng được coi là có hoạt tính sinh lý. Hiện tại, người ta cho rằng một số dạng liên kết đang hoạt động, nhưng điều này không phủ nhận luận điểm chung rằng hàm lượng gossypol tự do quyết định khả năng gây độc của nguyên liệu. Hàm lượng gossypol tự do của bã hạt bông vải giảm trong quá trình chế biến và thay đổi theo các phương pháp được sử dụng. Ở dạng ép chứa  200-500mg gossypol/ kg, chiết xuất bằng dung môi đã được xử lý trước chứa 200-700 mg/kg và chiết xuất dung môi 1000-5000 mg/kg. Các điều kiện xử lý phải được kiểm soát cẩn thận để tránh giảm chất lượng protein do sự liên kết của gossypol với lysine ở nhiệt độ cao. May mắn thay, hiệu ứng cắt của máy ép trục vít trong quy trình ép đùn là yếu tố bất hoạt gossypol hiệu quả ở mức nhiệt độ không làm giảm chất lượng protein.

Thông thường người ta cho rằng khẩu phần ăn cho heo và gia cầm không nên chứa hơn 100 mg/kg gossypol tự do và hàm lượng trong bã hạt bông vải nên nằm trong phạm vi 50-100 kg/tấn. Cần để ý hơn với khẩu phần của gà đẻ, vì chỉ với  mức độ tương đối thấp trong khẩu phần đã có thể gây ra sự đổi màu thành màu xanh-ô liu trong lòng đỏ dự trữ. Khi albumen của lòng đỏ đổi sang màu hồng thì nguyên nhân là do cyclopropenoids chứ không phải gossypol. Bổ sung sắt sunfat có thể làm giảm ảnh hưởng của gossypol, với liều từ 1 đến 4 phần sắt sunfat cho 1 phần gossypol. Động vật nhai lại không bị ảnh hưởng xấu, ngay cả khi chúng tiêu thụ một lượng lớn bã hạt bông vải.

Ở Anh, hàm lượng gossypol tự do trong khẩu phần được kiểm soát chặt chẽ bởi pháp luật. Nguyên liệu, ngoại trừ khô dầu bông và bột bông thô, không được chứa quá 20 mg/kg; giới hạn tương tự áp dụng cho khẩu phần ăn hoàn chỉnh cho gà đẻ và heo con. Đối với gia cầm và bê, giới hạn là 100 mg/kg, đối với heo 60 mg/kg và đối với gia súc, cừu và dê 500 mg/kg. Khô dầu bông và bột bông thô được phép chứa tới 1200 mg/kg gossypol tự do. Thức ăn hoàn chỉnh có độ ẩm 120 g / kg.

Khô dầu dừa
Hàm lượng dầu của khô dừa thay đổi từ 25g/kg đến 65g/kg, khẩu phần ăn có hàm lượng dầu cao hơn rất có lợi trong việc tổ hợp khẩu phần ăn giàu năng lượng. Tuy nhiên, khô dừa rất dễ bị ôi khi dự trữ trong kho. Protein trong khô dầu dừa chứa ít lysine và histidine cùng với hàm lượng chất xơ cao khoảng 120g/kg, đã làm hạn chế việc sử dụng trong khẩu phần ăn ở động vật dạ dày đơn. Nên thường được khuyến nghị sử dụng dưới 25 kg/tấn khẩu phần ăn cho heo và dưới 50 kg/tấn khẩu phần ăn gia cầm. Khi sử dụng khô dừa trong khẩu phần ăn động vật dạ dày đơn, phải bổ sung thêm protein động vật để bù lại lượng acid amin thiếu hụt. Hàm lượng protein và xơ đều không giới hạn đối với động vật dạ dày kép, do đó khô dừa cung cấp một sự bổ sung protein tốt và chấp nhận được. Trong khẩu phần ăn cho bò sữa, nó được cho là làm tăng hàm lượng chất béo sữa. Một số nghiên cứu được công bố đã cho thấy hàm lượng chất béo sữa tăng của những con bò được bổ sung khô dầu dừa, với khẩu phần ăn cơ bản thì chỉ có hàm lượng chất béo khoảng 10g/kg. Khi sử dụng các chất béo này để làm bơ, chắc chắn sẽ rất tuyệt vời.

Khô dầu dừa có đặc tính quý giá là nó có thể hấp thụ một lượng rỉ mật bằng một nửa trọng lượng của chính nó điều này làm cho nó được sử dụng phổ biến trong thức ăn hỗn hợp.

Khô dầu cọ
Khô cọ là sản phẩm thu được sau khi chiết ly dầu bằng dung môi, trong khi bánh dầu cọ được sản xuất bằng phương pháp ép dầu. Trong thực tế, thuật ngữ “palm kernel meal” thường được sử dụng để mô tả một trong hai sản phẩm. Nguyên liệu này có hàm lượng protein tương đối thấp, và tỷ lệ lý tưởng acid amin là thấp. Acid amin giới hạn đầu tiên là lysine. Tỷ lệ canxi với phốt pho là tốt hơn so với nhiều loại hạt có dầu khác. Đối với khẩu phần ăn khô và cứng, khi sử dụng các sản phẩm chiết xuất dung môi khiến động khó ăn; do đó nó được sử dụng trong hỗn hợp với các loại nguyên liệu dễ chấp nhận hơn. Việc sử dụng khô cọ với rỉ mật, như khô cọ với mật mía, đã không thành công. Lợi ích chính khi sử dụng cho bò sữa là tăng hàm lượng chất béo trong sữa. Khô dầu cọ đã được mô tả là cân bằng cho việc sản xuất sữa, nhưng thực tế nó chứa tỷ lệ protein so với năng lượng quá cao.

Trước đây khô cọ không được sử dụng rộng rãi trong khẩu phần ăn của heo và gia cầm. Nguyên nhân là do khi bổ sung sẽ khiến khẩu phần ăn không ngon miệng ngoài ra là do hàm lượng chất xơ cao (150g/kg DM), từ đó làm giảm khả năng tiêu hóa. Tỷ lệ cao nhất của khô cọ được khuyến cáo trong khẩu phần ăn của động vật dạ dày đơn là khoảng 50kg/tấn. Nhiều nghiên cứu gần đây đã chứng minh năng suất chấp nhận được ở gà con, với tỷ lệ sử dụng lên tới 400kg/tấn, với điều kiện khẩu phần ăn được cân bằng các acid amin và năng lượng có thể chuyển hóa được. Ngoài ra, hàm lượng β-mannan tương đối cao trong khô cọ phải được xử lý để hoạt động như một prebiotic, giảm lượng Salmonella và cải thiện hệ thống miễn dịch ở gia cầm. Ở bò sữa, khô cọ đã được đưa vào tới 150g/kg DM mà không ảnh hưởng xấu đến năng suất hoặc thành phần sữa.


Sưu tầm và biên dịch: Acare VN Team

kỹ thuật khác


Please upgrade IE 8+, Download here