KHÁI NIỆM ĐƠN GIẢN - CƠ SỞ CỦA VIỆC LẬP CÔNG THỨC THỨC ĂN CHO HEO

IOANNIS MAVROMICHALIS

Công thức thức ăn đòi hỏi kiến thức và kinh nghiệm rất lớn, nhưng mọi thứ bắt đầu với những khái niệm đơn giản này.

Sẽ là chưa đủ khi có phần mềm lập khẩu phần và ai đó để vận hành nó. Thậm chí vẫn là chưa đủ ngay cả khi có các số liệu về các chỉ tiêu kỹ thuật và ma trận dinh dưỡng nguyên liệu được cập nhật mới nhất. Tất cả những điều này là điều kiện tiên quyết để có ai đó đủ kinh nghiệm kết hợp mọi thứ lại với nhau để tạo ra một loại thức ăn lành mạnh, tốt cho sức khỏe vật nuôi được trộn, sản xuất, vận chuyển, lưu trữ và cuối cùng được cho động vật ăn.

Ở mỗi bước, có những vấn đề có thể tránh hoặc cải thiện thông qua công thức thức ăn ban đầu. Đó là lý do tại sao kinh nghiệm lâu năm yêu cầu phải được kết hợp với kiến thức sâu rộng không phải để tạo ra một công thức chi phí thấp nhất, mà là một sản phẩm thức ăn thương mại có mục đích. Dưới đây là một bản tóm tắt ngắn gọn về những điểm chính phải chú ý để đảm bảo thức ăn được xây dựng dựa trên những cách thức kinh tế và hiện đại nhất.


Năng lượng
Trên toàn thế giới, hầu hết các loại thức ăn đều được lập công thức sử dụng hệ thống năng lượng trao đổi (ME), từ lâu người ta đã từ bỏ hệ thống năng lượng tiêu hóa (DE). Mặc dù đây là một hệ thống hoàn toàn tốt, nhưng nó bị ảnh hưởng nặng nề khi các công thức bắt đầu từ năng lượng chung (ngô, lúa mì) và nguồn protein (bột đậu nành).
Lý do rất đơn giản: Với hệ thống ME, các sản phẩm phụ giàu chất xơ hoặc protein không được đánh giá chính xác. Vấn đề này sau đó được giải quyết bằng hệ thống năng lượng thuần (NE).
Rõ ràng là việc chuyển đổi ME thành NE tương tự như khi nói đến các loại ngũ cốc thông thường, chẳng hạn như ngô và lúa mì, và do đó, nó có rất ít sự khác biệt khi áp dụng hệ thống này hay hệ thống kia để lập khẩu phần. Tuy nhiên, khi nói đến các thành phần ít thông thường hơn, sự chênh lệch là rất lớn.
Một lợi ích khác của hệ thống NE là nó cho phép sử dụng các giá trị năng lượng riêng biệt đối với heo đang phát triển so với heo sinh sản (heo nái và heo đực). Hệ thống ME bỏ qua sự đóng góp năng lượng từ quá trình lên men diễn ra ở ruột già, nhưng hệ thống NE mang lại chính xác giá trị NE tốt hơn khi các thành phần được sử dụng cho heo sinh sản. Nói cách khác, thức ăn cho heo nái được xây dựng trên NE có xu hướng ít tốn kém hơn.

Việc chuyển đổi hệ thống năng lượng trao đổi qua năng lượng thuần tạo ra rất ít sự khác biệt khi nguyên liệu là các loại ngũ cốc thông thường, chẳng hạn như ngô và lúa mì. Tuy nhiên, khi sử dụng các nguyên liệu ít thông dụng, sự chênh lệch giữa hai hệ thống này là rất lớn.

Chất đạm
Protein và, do đó, axit amin là chất dinh dưỡng đắt thứ hai trong thức ăn của heo, sau năng lượng. Do đó, sử dụng đúng mẫu để mô tả sự hiện diện của chúng trong thức ăn là điều tối quan trọng trong việc tạo ra một công thức có chi phí thấp nhất.
Khi sử dụng tổng số axit amin, cần tối thiểu hàm lượng protein thô để đảm bảo tất cả các axit amin có mặt với số lượng đủ. Tuy nhiên, bằng cách sử dụng các axit amin tiêu hóa, các công thức không phải có tối thiểu protein, giả sử tất cả các axit amin thiết yếu đều được chuyển hóa đầy đủ thông qua giám sát công thức. Điều này một lần nữa dẫn đến lập công thức thức ăn với chi phí ít nhất có thể, tận dụng các nguồn protein rẻ hơn và thường là các axit amin tổng hợp ăn.
Có rất nhiều giá trị được công bố về các axit amin tiêu hóa, một số trong đó là các giá trị được tính toán và một số khác dựa trên các thử nghiệm khoa học. Cần thận trọng để đảm bảo sử dụng số liệu chính xác vì một sai lệch nhỏ theo hướng này hoặc hướng khác có thể hủy hoại lợi ích của mọi nỗ lực trong việc này.

Lactose
Lactose rất quan trọng trong thức ăn của heo con, nhưng không chỉ có đường sữa là thứ duy nhất heo con cần để phát triển mạnh; nó có thể sử dụng các loại đường đơn giản khác với hiệu quả "tương đương", nhưng cần phải sử dụng thuật ngữ "tương đương" với lactose. Các thành phần có chứa các loại đường đơn giản giờ đây có thể góp phần đáp úng nhu cầu "tương đương" đường sữa, thường với chi phí thấp hơn. Các thành phần như vậy bao gồm sucrose (đường thường), fructose, xi-rô ngô hàm lượng đường cao, dextrose, mật đường và maltodextrin.

Photpho
Đây là chất dinh dưỡng đắt thứ ba. Phốt pho tổng số, như một cách mô tả hàm lượng phốt pho trong thức ăn, rất không chính xác và thường dẫn đến sự việc sử dụng quá mức. Ví dụ, trong ngũ cốc, heo chỉ có thể sử dụng một phần ba phốt pho tổng, nhưng trong các nguồn protein động vật, có tới hai phần ba phốt pho tổng số được sử dụng. Thuật ngữ trung gian "phốt pho khả dụng", trong đó phốt pho của nguyên liệu được quy đổi so với nguồn tiêu chuẩn (natri photphat), là một dạng chấp nhận được. Tuy nhiên, nó đã bị thay thế bởi chỉ tiêu "phốt pho tiêu hóa" có tính chính xác nhất. Điều này cung cấp một bức tranh rõ ràng hơn nhiều về lượng phốt pho khả dụng cho động vật cho các mục đích khác nhau.

Vitamin và khoáng chất vi lượng
Đây là một lĩnh vực nhạy cảm, nơi những thay đổi nhỏ có thể giúp tiết kiệm đáng kể chi phí thức ăn và / hoặc năng suất động vật.
Ở đây, không có gì để nói nhiều về sự hiện diện của từng chất dinh dưỡng, mà là nồng độ thực tế của nó. Tuy nhiên, tính khả dụng của chất dinh dưỡng có thể được sử dụng trong việc hạ thấp chỉ tiêu kỹ thuật tổng thể của thức ăn . Tính khả dụng của vitamin là khá khác nhau giữa các nguồn nhất định và điều này cũng nên được tính đến khi các hỗn hợp này được thiết kế. Một ví dụ rõ ràng đủ để minh họa vấn đề này. Một dạng oxit đồng hoàn toàn không khả dụng cho heo, trong khi đó một loại oxit đồng tương tự lại có tính khả dụng cao.

Chất xơ
Chất xơ là không mong muốn trong hầu hết các công thức vì nó làm giảm mật độ năng lượng và khả năng tiêu hóa chất dinh dưỡng. Tuy nhiên, xơ chức năng có lợi trong việc cải thiện sức khỏe đường tiêu hóa của động vật. Cho đến thời điểm này, vẫn chưa có một sự thống nhất về thuật ngữ nào là tốt nhất để mô tả phần xơ trong thức ăn. Do đó, thuật ngữ "xơ thô" tiếp tục là cơ sở để đánh giá các nguyên liệu cho heo.
Các dạng khác, phức tạp hơn, tồn tại, nhưng giá trị của chúng trong các nguyên liệu cho heo vẫn chưa được xác định.
Quan trọng nhất là các chỉ tiêu kỹ thuật về chất xơ khẩu phần (giá trị tối thiểu và tối đa) đối với các công thức của heo, ngoại trừ "chất xơ thô" rất khó gặp trong các tài liệu công bố. Tất cả những điều này ngụ ý rằng thuật ngữ "xơ thô" là lựa chọn tốt nhất cho thời điểm hiện tại, khi tất cả những điều thực tế được tính đến. Tuy nhiên, cộng đồng dinh dưỡng đang dần quen với việc sử dụng các thuật ngữ như xơ không hòa tan và xơ lên men, mặc dù chúng ta vẫn còn một chặng đường dài để thiết lập các nhu cầu hiện tại chỉ có các khuyến nghị thực tế.

Các chỉ tiêu dinh dưỡng
Các bảng chỉ tiêu dinh dưỡng được cung cấp bởi các tổ chức khoa học hoặc thương mại khá phổ biến trong việc thiết lập các giá trị mục tiêu cho các chất dinh dưỡng trên. Mặc dù các bảng này cung cấp một cơ sở khởi đầu tuyệt vời, nhưng cần phải sửa đổi để đảm bảo thông số kỹ thuật đáp ứng nhu cầu thực tế của động vật.
Do dạng chung của các bảng giá trị như vậy, nó không bao phủ được tất cả các mọi trường hợp. Đó là hiệu quả sản xuất thực tế nên được sử dụng như một hướng dẫn trong việc thiết lập các chỉ tiêu kỹ thuật cho công thức hoàn chỉnh. Điều này đảm bảo giảm thiểu chi phí thức ăn và tối đa năng suất động vật. Mục tiêu này có thể đạt được thông qua phép thử và sai (hoặc thông qua các thử nghiệm về dinh dưỡng), hoặc bằng cách sử dụng mô hình tăng trưởng (với trường hợp nuôi heo thịt). Đáng chú ý, các bảng giá trị như vậy được coi là chắc chắn trong khi thực tế, chúng chỉ là điểm bắt đầu.

Những thay đổi nhỏ mang lại khoản tiết kiệm lớn
Các khái niệm xây dựng công thức thức ăn thích hợp thường bị bỏ qua khi cần tiết kiệm chi phí thức ăn. Một loại thức ăn rẻ hơn không phải là một loại thức ăn chất lượng thấp hơn. Ở điểm này, sử dụng các công cụ chính xác (thông số và giá trị) trong việc xây dựng công thức thức ăn cho heo, cả hiệu suất của động vật và chi phí thức ăn có thể được kiểm soát theo kết quả mong muốn.
Các nhà chăn nuôi được khuyến khích hỏi các chuyên gia dinh dưỡng của họ về công nghệ mới nhất và tiên tiến nhất khi nói đến công thức thức ăn. Bởi vì thức ăn chiếm ít nhất 60% tổng chi phí sản xuất, những thay đổi nhỏ trong lĩnh vực này giúp tiết kiệm đáng kể.

Nguồn: feedstrategy-digital.com
Biên dịch: Acare VN Team

kỹ thuật khác


Please upgrade IE 8+, Download here